Hình tượng Trương Ba trong tác phẩm nổi tiếng của nhà văn
Lưu Quang Vũ “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” đã phần nào tái hiện những rắc rối
của người đa nhân cách. Không chỉ mang hình hài thô tục của tay hàng thịt,
Trương Ba dần trở thành con người khác về tính cách, không thể kiểm soát suy
nghĩ và hành động một cách thống nhất. Trong thực tế, các triệu chứng này được
biết đến với tên gọi “triệu chứng rối loạn đa nhân cách” – một trong những triệu
chứng rối loạn gây nhiều tranh cãi nhất trong cộng đồng khoa học vì những điều
chưa thể kiểm chứng hay giải thích được. Bài viết sẽ giới thiệu sơ quát về tính
chất, nguyên nhân và các biện pháp điều trị của triệu chứng Rối loạn đa nhân
cách – DID
1. Triệu chứng
Trước đây, triệu chứng rối loạn đa nhân cách được biết
đến với tên gọi Multiple Personality Disorder nhưng gần đây đã được đổi thành
Dissociative Identity Disorder – DID để nhấn mạnh sự “phân rẽ” (dissociative)
trong nhân cách của những người mắc rối loạn này. Theo Hướng dẫn chẩn đoán và
thống kê các rối loạn tâm thần (DSM-IV-TR) của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kì
(American Psychiatric Association), DID là “sự tồn tại hai hoặc nhiều hơn những
bản thể (identities) hoặc tính cách (personality), trong đó mỗi bản thể hoặc
tính cách có lối nhận thức, liên hệ, và suy nghĩ về môi trường hoặc bản thân
riêng rẽ liên tục kiểm soát hành vi”.
DID khó để chẩn đoán vì những triệu chứng trùng lặp với
những rối loạn tâm thần hay tâm lý khác. Triệu chứng của mỗi bệnh nhân lại vô
cùng khác nhau. Theo như DSM-IV-TR, một người được chẩn đoán với triệu chứng DID
chỉ khi mang những đặc điểm sau:
– Sở hữu ít nhất hai bản thể hay tính cách liên tục chi
phối hành vi ngoài vòng kiểm soát.
– Mất trí nhớ (ở một mức nghiêm trọng hơn là sự đãng trí thông thường).
– Triệu chứng không phải là ảnh hưởng tạm thời từ việc sử dụng thuốc hoặc hoá chất.
– Mất trí nhớ (ở một mức nghiêm trọng hơn là sự đãng trí thông thường).
– Triệu chứng không phải là ảnh hưởng tạm thời từ việc sử dụng thuốc hoặc hoá chất.
Những người có triệu chứng DID có thể có một host (nhân
cách chủ) và một hoặc nhiều alters (nhân cách thay thế). Host có thể không phải
là nhân cách trước khi một người bị rối loạn, nhưng là nhân cách chiếm lĩnh hành
vi của người đó tại thời điểm hiện tại. Host đồng thời là nhân cách tìm kiếm sự
giúp đỡ của bác sĩ tâm thần vì nhận thức được sự rối loạn của bản thân hoặc do
nghe theo sự hướng dẫn của người thân. Khi một người ở trạng thái Alter (nhân
cách thay thế), Host có thể xuất hiện, nắm quyền điều khiển, đưa người bị rối
loạn trở lại trạng thái thông thường. Khi một nhân cách đang chi phối hành vi –
có thể là Host hoặc Alter, những nhân cách còn lại không xuất hiện. Tuỳ theo sự
biến đổi môi trường hoặc các biện pháp điều trị, các nhân cách khác có thể trỗi
dậy và chiếm lĩnh nhân cách đang nắm vị trí kiểm soát hiện tại.
Nếu bạn ở nhà là một người hiền lành, ít nói, nhưng khi
đi chơi cùng bạn bè lại trở nên hoạt bát, sôi nổi thì đây không phải dấu hiệu
của DID vì bạn vẫn đang kiểm soát hành vi của bản thân, đưa ra quyết định về
cách ứng xử trong các trường hợp khác nhau nhưng vẫn ý thức mình là ai. Trong
khi đó, Mary, một một cô gái da trắng nữ tính, dịu dàng bỗng chốc biến thành
John, một chàng trai da đen mạnh mẽ và cực lực phản đối nếu có ai vô tình gọi cô
là “phụ nữ”, là một trường hợp DID điển hình. Host của Mary chính là cô gái da
trắng dịu dàng còn alters là chàng trai da đen nam tính. Mary chỉ có thể nhận ra
sự tồn tại cúa nhân cách John khi nghe từ người thân hay trải qua các phương
pháp điều trị. Đây là một trường hợp cụ thể khác, một người phụ nữ được xem là
thiên tài hội họa vì 20 nhân cách khác nhau có thể tạo ra các tác phẩm hội họa
thuộc 20 trường phái khác nhau.
Switch, sự chuyển đổi giữa các nhân cách, có thể xảy ra
trong vài giây, vài tiếng hoặc vài ngày, có lúc qua một giấc ngủ, xuyên giới
tính, độ tuổi và quốc tịch. Những người với DID có thể nhận biết một loạt những
ngôn ngữ, giọng điệu, cách ăn mặc và cử chỉ hoàn toàn khác nhau. Họ có thể có
nét chữ khác nhau và thậm chí đổi cả tay thuận. Bí ẩn hơn, có những người khi
đổi nhân cách có thể thay đổi những đặc điểm sinh lý như nhịp tim, huyết áp,
nhiệt độ cơ thể, sức chịu đau, thị giác và thậm chí xuất hiện những căn bệnh
chưa hề mắc phải trước đó như dị ứng hay hen phế quản.
Một giả thuyết được đưa ra là người với DID đang mang
những “mảnh” tính cách rời rạc, mỗi mảnh thường chỉ tập trung vào một chức năng
chính. Khi switch sang một “mảnh”, họ quên đi khả năng học được từ “mảnh” trước
đó. Ví dụ một người có host tên Paul, người Mỹ nói tiếng Anh, khi chuyển sang
alter Lee lại thích tiếng Nhật, xem phim Nhật và gặp gỡ, làm quen với những
người gốc Nhật Bản. Khi chuyển từ Lee sang Paul, anh ta quên mất mình có khả
năng nói tiếng Nhật và cả những sở thích hay mạng lưới bạn bè người Nhật của
Lee.
Tuỳ trường hợp cụ thể mà một người với DID có thể nhận
thức được nhân cách khác của bản thân hay không. Có trường hợp họ chỉ có một ý
niệm mơ hồ. Qua hướng dẫn của nhà trị liệu, họ có thể giao tiếp với nhân cách
khác của mình. Ví dụ qua việc viết nhật kí, họ sẽ nhận ra những nét chữ khác
nhau, những cách nói khác nhau chính là biểu hiện của những alters. Có trường
hợp họ ý thức được nhân cách khác đang tồn tại, đặt tên cho chúng và đối thoại
với chúng. Một lời chia sẻ của người với DID nhận thức nhân cách phụ thông qua
nhật ký như sau: “Hôm qua Lê (tên đặt cho nhân cách mới) rất giận dữ, cô ta ném
vỡ tất cả mọi thứ trong phòng tôi.”
Nhiều người với DID có dấu hiệu ảo tưởng khi nhìn thấy
trong gương nhiều hình hài, biến thể khác nhau tuỳ theo nhân cách đang chiếm
lĩnh họ (có khi là một cô gái, một em bé, một con mèo) hoặc tự “phân thân” và
nhìn thấy bản thân từ bên ngoài như một diễn viên đang đóng trong bộ phim cuộc
đời của chính mình (giống hiện tượng “chết lâm sàng”). Có người với đời sống tâm
linh cao cảm thấy mình bị chiếm hữu bởi ma quỷ hoặc thần thánh và liên tục nghe
một giọng nói sai khiến họ (giống như triệu chứng schizophrenia).
Theo thống kê, những người với DID trên trung bình có 15
nhân cách khác nhau, và thường phổ biến ở nữ giới hơn nam giới (tỉ lệ 9 trên 1).
Các nhà nghiên cứu tin rằng đó là vì nam giới mắc rối loạn DID có xu hướng bao
lực, vi phạm pháp luật. Tỉ lệ vào tù của nam giới với DID khá cao, vì thế khó
được phát hiện chẩn đoán. Trong khi đó, phụ nữ dễ phát triển nhiều nhân cách có
khả năng được chẩn đoán cao hơn.
2. Nguyên nhân
DID thường xuất hiện từ 4 tuổi, nếu không chữa trị có thể
kéo dài hết cuộc đời. Những alters được phát triển liên tục khi một người đối
diện với những tình huống mới trong cuộc sống. Người bị chẩn đoán DID đa phần
cho biết đã bị lạm dụng thể xác và tình dục khi còn bé. Vì thế, nhiều nhà tâm
thần học giả thuyết DID là một loại Rối loạn stress sau sang chấn
(Post-traumatic Stress Disorder – PTSD). Theo đó, những ý thức, kí ức, và cảm
xúc xuất phát từ một hành động hoặc một sự kiện gây hại tới đứa trẻ bị dồn nén
vào vùng ngoài nhận thức, tách rời khỏi hiện thực, như một cách tránh né tổn
thương tinh thần. Khi lớn lên, những kí ức và cảm xúc này dần dần trở thành một
thể nhân cách riêng biệt. Càng nhiều sự chi phối, càng nhiều nhân cách mới
(alters) được tạo thành. Nhìn chung, DID được coi là sự phân ly hoặc tách biệt
(dissociation) nhân cách nhằm đối phó với căng thẳng tâm lý và cảm xúc cực
độ.
Vẫn còn nhiều tranh cãi liên quan đến nguyên nhân, cơ chế
phát bệnh, và cách chẩn đoán DID. Đây chính là do nhiều khái niệm liên quan tới
DID như “nhân cách” khá mơ hồ, do thiếu chứng cứ về sự xâm hại từ bé của người
với DID (ngoài bản tự thuật), do thiếu định nghĩa rõ ràng về mức độ xâm hại có
thể dẫn tới DID, và do có một số lượng rất ít trẻ em bị chẩn đoán DID. Sự khó
khăn trong việc chẩn đoán DID cũng gây rắc rối khi có những kẻ lợi dụng rối loạn
này làm điều phi pháp, điển hình là vụ án “Tên bóp cổ trên sườn đồi” (The
Hillside Strangler) Kenneth Bianchi đã giả triệu chứng DID hòng thoát tội ác
cưỡng bức và sát hại 10 cô gái tại Los Angeles, California (Mỹ).
3. Phương pháp điều trị
Vì tính mơ hồ trong chẩn đoán, cách chữa trị DID vẫn còn
gặp nhiều trở ngại. Một trong số những phương pháp điều trị là tái tạo kí ức,
bao gồm thuật thôi miên, gợi ý, kích thích tưởng tượng. Tuy nhiên, nhiều người
nghi ngờ chính phương pháp này góp phần tạo nên “trí nhớ giả”. Theo đó, do chịu
sự tác động của nhà điều trị, nhiều người bị chẩn đoán DID đã tự tưởng tượng ra
những sự kiện không có thật. Nhiều người đã cho rằng mình bị xâm hại tình dục
bởi bố mẹ mặc dù đây là điều không hề xảy ra hoặc không thể chứng minh. Các nhà
khoa học cho rằng bộ não (liên quan đến trí nhớ) trẻ em chưa thể hoàn thiện
trước khi chúng lên ba, đặc biệt chống đối phương pháp này khi phần đông những
người mắc DID “nhớ lại” việc mình bị xâm hại xảy ra trước khi họ ba
tuổi.
Ngoài ra, trong lúc cùng bác sĩ tâm lí tham gia phương
pháp “đóng kịch” hoặc phân tâm học nhằm khai thác alters, người bị chẩn đoán DID
có thể hoang tưởng, phát triển và ngộ nhận alters mới, từ đó triệu chứng trở nên
trầm trọng hơn. Điển hình là trường hợp của Shirley Mason, với tình trạng tình
cảm không ổn định, vì không nhận được sự chú ý của bác sĩ tâm thần Connie
Wilbur, đã giả triệu chứng DID và lôi người bác sĩ đầy tham vọng nghiên cứu DID
vào vòng xoáy dối trá của mình. Vì thế, nhiều nhà khoa học hoài nghi chính bác
sĩ tâm lí và người “bệnh” tự hoang tưởng và tạo ra rối loạn này, và đặt câu hỏi
liệu DID có thực sự tồn tại.
Liệu trình điều trị DID dài hạn (trung bình 4 năm) thường
diễn ra 2 lần mỗi tuần. Nhà trị liệu cần phát triển mối quan hệ tin tưởng với
host lẫn alters (qua thuật thôi miên), vì nhiều alters (đặc biệt những alters
mang tính bạo lực, mạnh mẽ) có xu hướng chống đối nhà trị liệu vì biết họ đang
tìm cách tiêu diệt mình. Từ đó, nhà trị liệu phát hiện nguồn gốc tổn thương tinh
thần (nếu có) và hướng dẫn cho người với DID những phương pháp đối phó thay vì
đè nén cảm xúc. Nhà trị liệu cũng giúp cho host và alters đối thoại với nhau
nhằm đi đến hợp thành một thể thống nhất.
Tuy nhiên, những người đã trải qua rối loạn tính cách,
tình cảm và ăn uống thường mất thời gian khá lâu và rất khó để phục hồi, nhất là
khi họ vẫn còn quan hệ mật thiết với người đã xâm hại mình. Cuộc sống của những
người bị rối loạn DID luôn luôn xáo trộn, khi mà trong bất kỳ khoảnh khắc nào,
họ đều có thể lạc lại vào một thế giới lạ lẫm, một tình huống khó hiểu, không
nhớ chuyện gì đã xảy ra, cảm thấy bản thân luôn luôn bị biến đổi. Vì thế, người
với DID có xu hướng tự sát. Trong câu chuyện của Trương Ba, nhân cách chính
Trương Ba vốn thanh cao, tao nhã, vì thế thà chết đi chứ không thể sống cùng với
nhân cách anh hàng thịt thô lỗ, cộc cằn.
4. Tầm ảnh hưởng
Ở Mỹ, nhiều tác phẩm phim ảnh, điển hình là các bộ phim
kinh dị, đã khai thác đề tài đa nhân cách vì tính bí ẩn và cuốn hút của nó: Dr.
Jeckyll and Mr. Hyde, Psycho, Fight Club, Primal Fear, Hide and Seek, Identity,
Uninvited (từ bản góc Tale of two sisters, Hàn Quốc), Me, Myself & Irene,
The Exorcism of Emily Rose. Mỹ chính là nơi nhiều người bị chẩn đoán DID nhất,
chiếm khoảng 1% dân số Mỹ.
Đa số mọi người vẫn lạ lẫm với DID, vì thế, nhiều trường
hợp DID bị chẩn đoán là ma nhập. Vụ án trừ quỷ của Anneliese Michel, một cô gái
người Đức, là một ví dụ điển hình. Thay vì gửi cô con gái vào bệnh viện tâm thần
khi cô liên tục co giật, không kiểm soát được hành vi bản thân, gào thét, chửi
rủa, khai ra danh tính 6 tên quỷ trong đạo Thiên Chúa bằng nhiều ngôn ngữ khác
nhau, ba mẹ cô đã cho mời linh mục làm lễ trừ tà và buộc cô thi hành nhiều nghi
lễ cho tới chết. Tại Việt Nam, nhiều trung tâm “áp vong” đang mọc lên để “đuổi
ma”, chữa bệnh tâm thần mà không dựa trên bất kì cơ sở khoa học nào dẫn tới tiền
mất tật mang. Rối loạn đa nhân cách, trong khi vẫn còn là đề tài tranh cãi của
các nhà khoa học, cần được nhận thức rõ hơn để tránh những sai lầm đáng tiếc
trên.
Ngoc T
Nguồn tham khảo:
Defending a diagnostic pariah: validating the categorisation of Dissociative Identity Disorder (Traub, 2009)
Diagnosis and Treatment of Multiple Personality Disorder (Putnam, 1989)
http://psychology.jrank.org/…/Dissociative-Identity-Disorde…
http://en.wikipedia.org/…/Dissociative_identity_disorder_in…
http://en.wikipedia.org/wiki/Dissociative_identity_disorder
http://psychcentral.com/…/was-sybil-faking-multiple-person…/
http://www.scienceclarified.com/…/Multiple-Personality-Diso…
http://vibiwebsite.com/VIBI_WV/?p=486
http://vietnamnet.vn/vn/tin-nhanh/25391/hien-tuong–ap-vong—-hon-nhap–hay-am-thi-.html
Defending a diagnostic pariah: validating the categorisation of Dissociative Identity Disorder (Traub, 2009)
Diagnosis and Treatment of Multiple Personality Disorder (Putnam, 1989)
http://psychology.jrank.org/…/Dissociative-Identity-Disorde…
http://en.wikipedia.org/…/Dissociative_identity_disorder_in…
http://en.wikipedia.org/wiki/Dissociative_identity_disorder
http://psychcentral.com/…/was-sybil-faking-multiple-person…/
http://www.scienceclarified.com/…/Multiple-Personality-Diso…
http://vibiwebsite.com/VIBI_WV/?p=486
http://vietnamnet.vn/vn/tin-nhanh/25391/hien-tuong–ap-vong—-hon-nhap–hay-am-thi-.html
Nguồn:
https://vietpsy.wordpress.com/…/tim-hieu-ve-trieu-chung-ro…/
https://vietpsy.wordpress.com/…/tim-hieu-ve-trieu-chung-ro…/
xem thêm tại fanpage: tâm lí học xã
hội và con người

đăng kí nhận tài liệu
free



00:02
Nặc danh
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét